Quy Định Làm Thêm Giờ 2026: Giới Hạn Giờ Và Tiền Lương

Luật sư Phạm Văn Duẩn - Công ty Luật Chính Danh Đồng Nai

Làm thêm giờ là thời gian người lao động làm việc ngoài giờ làm việc bình thường, chỉ được huy động khi có sự đồng ý của người lao động (trừ trường hợp đặc biệt) và phải trả lương cao hơn ngày thường. Theo Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp không được bố trí làm thêm vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong ngày, 40 giờ/tháng và 200 giờ/năm (một số ngành được tới 300 giờ/năm).

Tại các khu công nghiệp Đồng Nai như Biên Hòa, Nhơn Trạch, Long Thành, Trảng Bom, nhu cầu tăng ca mùa cao điểm rất lớn. Nhiều doanh nghiệp vì áp lực đơn hàng đã bố trí làm thêm vượt trần, không có văn bản đồng ý của người lao động, hoặc trả lương làm thêm giờ sai mức quy định.

Sai sót này khiến doanh nghiệp đối mặt rủi ro bị xử phạt hành chính, bị người lao động khởi kiện đòi tiền lương làm thêm giờ, hoặc phát sinh tranh chấp lao động kéo dài. Bài viết dưới đây hệ thống hóa quy định làm thêm giờ hiện hành để doanh nghiệp tại Đồng Nai áp dụng đúng pháp luật.

Luật sư tư vấn quy định làm thêm giờ cho doanh nghiệp tại Đồng Nai
Luật sư Phạm Văn Duẩn tư vấn quy định làm thêm giờ cho doanh nghiệp tại Đồng Nai.

Điều kiện huy động làm thêm giờ

Doanh nghiệp chỉ được bố trí làm thêm giờ khi người lao động đồng ý, trừ các trường hợp đặc biệt tại Điều 108 Bộ luật Lao động 2019. Sự đồng ý này phải thể hiện rõ: thời gian, địa điểm, công việc làm thêm (Điều 107 khoản 2).

Sự đồng ý có thể ghi trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, hoặc một văn bản/tin nhắn riêng mỗi lần huy động. Doanh nghiệp không được ép buộc, cũng không được coi việc không phản đối là đồng ý làm thêm giờ.

Ngoài sự đồng ý, doanh nghiệp phải bảo đảm tổng số giờ làm việc bình thường và làm thêm không vượt giới hạn theo ngày/tháng/năm (xem mục kế tiếp), và phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động cấp tỉnh khi tổ chức làm thêm từ trên 200 đến 300 giờ/năm (Điều 61 Nghị định 145/2020/NĐ-CP).

Giới hạn số giờ làm thêm giờ

Pháp luật giới hạn chặt số giờ làm thêm để bảo vệ sức khỏe người lao động. Giới hạn áp dụng theo ba mốc: ngày, tháng và năm, quy định tại Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 60 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Mốc thời gianGiới hạn tối đa
Theo ngàyKhông quá 50% số giờ làm việc bình thường/ngày; tổng giờ làm việc bình thường và làm thêm không quá 12 giờ/ngày
Theo thángKhông quá 40 giờ/tháng
Theo năm (thông thường)Không quá 200 giờ/năm
Theo năm (ngành nghề đặc biệt)Không quá 300 giờ/năm (dệt may, da giày, điện tử, chế biến thủy sản, sản xuất điện và một số trường hợp cấp bách khác theo danh mục của Chính phủ)

Doanh nghiệp tại các khu công nghiệp Đồng Nai thuộc nhóm dệt may, điện tử, chế biến thực phẩm thường rơi vào nhóm được làm thêm tới 300 giờ/năm, nhưng vẫn phải tuân thủ đúng giới hạn theo ngày và tháng, không được vượt trần dù sản lượng đơn hàng gấp.

Tiền lương làm thêm giờ các mức

Tiền lương làm thêm giờ được tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực tế trả theo công việc đang làm, nhân với tỷ lệ tương ứng theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2019.

Thời điểm làm thêm giờMức lương tối thiểu
Ngày thườngÍt nhất 150% lương giờ thực tế
Ngày nghỉ hằng tuầnÍt nhất 200% lương giờ thực tế
Ngày nghỉ lễ, Tết, ngày nghỉ có hưởng lươngÍt nhất 300% lương giờ thực tế (chưa kể lương ngày lễ nếu người lao động hưởng lương ngày)
Làm thêm giờ vào ban đêm (22h-6h)Cộng thêm ít nhất 20% tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường, ngoài mức làm thêm giờ và phụ cấp làm đêm

Ví dụ: lương giờ thực tế 50.000 đồng, làm thêm 3 giờ ngày thường được trả ít nhất 225.000 đồng; làm thêm 3 giờ vào ngày nghỉ hằng tuần được trả ít nhất 300.000 đồng. Doanh nghiệp trả thấp hơn các mức này là vi phạm, dù người lao động có đồng ý trước đó.

Trường hợp đặc biệt không cần đồng ý

Điều 108 Bộ luật Lao động 2019 cho phép doanh nghiệp huy động làm thêm giờ mà không cần sự đồng ý của người lao động trong các trường hợp cấp bách, gồm: thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng – an ninh.

Ngoài ra còn áp dụng khi thực hiện công việc nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe người lao động theo quy định về an toàn, vệ sinh lao động.

Ngoài các trường hợp này, mọi yêu cầu làm thêm giờ đều phải có sự đồng ý của người lao động. Doanh nghiệp không được tự suy diễn “tình huống cấp bách” để ép làm thêm giờ ngoài phạm vi luật quy định.

Đối tượng không được huy động làm thêm giờ

Một số nhóm lao động được pháp luật bảo vệ đặc biệt, doanh nghiệp không được huy động làm thêm giờ nếu không có sự đồng ý của chính người đó (với lao động nữ mang thai, nuôi con nhỏ) hoặc bị cấm tuyệt đối (với trẻ em dưới 15 tuổi).

  • Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 (hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo)
  • Người lao động đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ khi người đó đồng ý
  • Người lao động là người khuyết tật suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, hoặc khuyết tật nặng/đặc biệt nặng, trừ khi người đó đồng ý
  • Người chưa đủ 15 tuổi (cấm tuyệt đối làm thêm giờ)
  • Người từ 15 đến dưới 18 tuổi chỉ được làm thêm giờ trong một số ngành nghề, công việc theo danh mục của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Mức xử phạt vi phạm quy định làm thêm giờ

Doanh nghiệp vi phạm quy định về làm thêm giờ (bắt làm thêm không có sự đồng ý ngoài trường hợp đặc biệt, huy động vượt số giờ tối đa, không trả đúng mức lương làm thêm giờ) sẽ bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động.

Theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP (Điều 18), hành vi huy động làm thêm giờ mà không được sự đồng ý của người lao động (trừ trường hợp Điều 108 Bộ luật Lao động) bị phạt tiền từ 20.000.000 đến 25.000.000 đồng.

Từ ngày 10/9/2026, Nghị định 283/2026/NĐ-CP đã thay thế khung xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động – bảo hiểm xã hội; doanh nghiệp cần đối chiếu lại điều khoản cụ thể về làm thêm giờ trong nghị định mới này trước khi áp dụng, vì mức phạt chi tiết có thể đã được điều chỉnh (cần xác minh lại khi áp dụng cho vụ việc cụ thể).

Ngoài phạt tiền, doanh nghiệp còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: buộc trả đủ tiền lương làm thêm giờ còn thiếu cho người lao động, cộng thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn công bố tại thời điểm xử phạt.

Sai lầm phổ biến khi tổ chức làm thêm giờ

Sai lầmHậu quả pháp lý
Không có văn bản/thỏa thuận đồng ý làm thêm giờ từng lầnBị coi là huy động làm thêm giờ trái quy định, dễ bị phạt khi thanh tra
Trả lương làm thêm giờ bằng hoặc thấp hơn lương giờ bình thườngVi phạm Điều 98, bị buộc trả bổ sung phần thiếu và có thể bị phạt tiền
Bố trí làm thêm vượt 12 giờ/ngày hoặc vượt 200-300 giờ/nămVi phạm giới hạn giờ làm thêm, bị xử phạt hành chính
Không thông báo cơ quan lao động khi làm thêm trên 200 giờ/nămVi phạm thủ tục hành chính bắt buộc theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP
Huy động lao động nữ mang thai từ tháng 7 làm thêm giờ mà không hỏi ý kiếnVi phạm quy định bảo vệ lao động nữ, rủi ro tranh chấp lao động

Câu hỏi thường gặp

Người lao động có quyền từ chối làm thêm giờ không?

Có. Trừ các trường hợp đặc biệt tại Điều 108 Bộ luật Lao động 2019 (động viên khẩn cấp, phòng chống thiên tai, dịch bệnh), người lao động có quyền từ chối làm thêm giờ nếu không đồng ý, doanh nghiệp không được ép buộc hay xử lý kỷ luật vì lý do này.

Làm thêm giờ tối đa bao nhiêu tiếng một ngày?

Tổng số giờ làm việc bình thường cộng làm thêm không được vượt quá 12 giờ/ngày, và số giờ làm thêm riêng không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong ngày, theo Điều 107 Bộ luật Lao động 2019.

Doanh nghiệp có được quy định sẵn làm thêm giờ trong hợp đồng lao động không?

Có thể ghi nhận nguyên tắc chung trong hợp đồng hoặc nội quy, nhưng mỗi lần huy động cụ thể vẫn cần xác nhận lại sự đồng ý về thời gian, địa điểm, công việc làm thêm, không được coi hợp đồng là sự đồng ý “mặc định” cho mọi lần làm thêm giờ sau này.

Lương làm thêm giờ có phải đóng bảo hiểm xã hội không?

Theo quy định hiện hành, tiền lương làm thêm giờ không thuộc khoản tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; doanh nghiệp cần phân biệt rõ với tiền lương tháng dùng để tính mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Người lao động bị trả thiếu tiền làm thêm giờ nên làm gì?

Người lao động có thể yêu cầu doanh nghiệp trả bổ sung, khiếu nại tới công đoàn cơ sở hoặc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, hoặc khởi kiện tại Tòa án nếu không được giải quyết. Nên giữ lại bảng lương, chấm công làm căn cứ chứng minh.

Kết luận

Làm thêm giờ là công cụ hợp pháp giúp doanh nghiệp xử lý cao điểm sản xuất, nhưng phải tuân thủ chặt điều kiện đồng ý, giới hạn số giờ theo ngày/tháng/năm và mức lương tối thiểu theo Điều 98, 107, 108 Bộ luật Lao động 2019.

Doanh nghiệp tại Đồng Nai nên rà soát lại quy trình huy động làm thêm giờ, hồ sơ xác nhận đồng ý và cách tính lương làm thêm giờ định kỳ, tránh để phát sinh vi phạm khi bị thanh tra lao động hoặc khi người lao động khởi kiện.

Disclaimer: Nội dung bài viết mang tính chất tham khảo, tổng hợp theo quy định pháp luật lao động hiện hành tại thời điểm đăng tải, không thay thế cho ý kiến tư vấn pháp lý cụ thể cho từng trường hợp.

Mọi trích dẫn pháp luật trong bài đã được rà soát hiệu lực, tham khảo thêm tại thuvienphapluat.vn. Để được tư vấn chi tiết theo đúng tình huống tại doanh nghiệp, vui lòng liên hệ hotline/Zalo 0907 399 266.

Bài viết liên quan

Được tư vấn/kiểm duyệt bởi Luật sư Phạm Văn Duẩn — Số thẻ 23439/LS, Đoàn Luật sư Thành phố Đồng Nai. Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Luật Chính Danh, hơn 14 năm kinh nghiệm pháp lý. Hotline/Zalo: 0907 399 266.

⭐⭐⭐⭐⭐ 4,9/5 trên Google Maps · 88 đánh giá Xem đánh giá từ khách hàng →